Pages

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2010

Trẻ bị nôn có cần đi khám ngay?

Nôn là vấn đề hay gặp ở trẻ em, thường là nhẹ và xảy ra cấp tính, hiếm khi bệnh có thể nặng và đe dọa tính mạng.

Nôn thường không gây nguy hiểm cho trẻ nhưng nếu bé ói dịch màu xanh hoặc có máu, nôn ói liên tục trên 24 giờ, bú kém, có biểu hiện mất nước, sốt trên 39 độ C, li bì khó đánh thức... thì cần được đưa đến cơ sở y tế ngay.

Khi nôn, cơ bụng và cơ thành ngực co lại, đẩy dịch trong dạ dày lên thực quản và trào ra miệng. Xảy ra khi dây thần kinh trong não nhạy cảm với một số kích thích như: ngộ độc thức ăn, nhiễm trùng dạ dày - ruột, thuốc, chuyển động...

Tại sao trẻ nôn ói:

Nôn thường có lợi, bởi vì đây là cách cơ thể loại bỏ chất có hại. Tuy nhiên, không nên sử dụng thuốc hoặc các biện pháp gây ói như dùng ngón tay móc trong miệng, ngay cả khi trẻ uống nhầm chất có hại.

Hầu hết trẻ có thể tự hết nôn ói mà không cần điều trị, tuy nhiên cha mẹ cũng cần lưu ý nếu thấy dấu hiệu bệnh nặng hơn.

Nôn ói có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, tùy theo độ tuổi của trẻ.

Với trẻ sơ sinh và nhũ nhi, nôn vọt có thể là biểu hiện bệnh lý nặng và cần được đánh giá kỹ. Các nguyên nhân nôn ói có thể là tắc dạ dày (hẹp môn vị) hoặc tắc ruột. Ngoài ra, cũng có thể do nhiễm trùng đường ruột hoặc nhiễm trùng toàn thân. Bất cứ trẻ nhỏ nào sốt 38 độ C hoặc sốt cao hơn, kèm nôn ói, nên được khám tại cơ sở y tế.

Với trẻ lớn hơn, nguyên nhân thường gặp nhất gây nôn là viêm dạ dày - ruột, thường do siêu vi trùng. Viêm dạ dày, ruột có thể xảy ra khi trẻ ăn thức ăn bị nhiễm khuẩn hoặc ngậm tay bị nhiễm bẩn. Cũng có thể do ăn thức ăn được chế biến, hoặc bảo quản không đúng cách gọi là ngộ độc thức ăn nhưng ít gặp hơn.

Nôn ói do viêm dạ dày - ruột thường bắt đầu đột ngột và hồi phục nhanh, trong vòng 24 giờ. Những dấu hiệu khác của viêm dạ dày - ruột bao gồm: tiêu chảy, sốt, hoặc đau bụng. Những bệnh khác cũng có thể gây nôn ói là: trào ngược dạ dày - thực quản, viêm loét dạ dày, tắc ruột.

Khi trẻ bị nôn ói, cha mẹ nên theo theo dõi mất nước ở bé. Các dấu hiệu mất nước nhẹ như: môi khô, trẻ khát nước. Để bù nước, việc uống nước an toàn và đơn giản hơn truyền nước. Khi trẻ có dấu hiệm mất nước trung bình hoặc nặng bao gồm tiểu ít, khóc không có nước mắt, miệng khô, mắt trũng thì cần được đưa đến cơ sở y tế.

Với trẻ nhũ nhi, nếu đang bú mẹ mà bị nôn ói thì trẻ nên được tiếp tục bú mẹ, trừ khi có bệnh lý mà nhân viên y tế khuyên nhịn bú, bởi vì sữa mẹ dễ tiêu hóa. Nếu trẻ nôn ói lập tức sau khi bú, bà mẹ có thể cố gắng cho trẻ bú nhiều lần, mỗi lần ít một, ví dụ, cách 30 phút cho con bú một lần, mỗi lần 5 - 10 phút. Nếu nôn ói giảm sau 2 - 3 giờ, có thể cho trẻ bú lại như bình thường. Nếu nôn ói nặng hơn sau 24 giờ, cha mẹ cần đưa con đi khám.

Cha mẹ nên cho trẻ uống thêm nước, tránh uống nước có quá nhiều đường, tránh ăn thức ăn có nhiều mỡ sẽ khó hấp thu.

Theo SK&ĐS

Làm gì khi trẻ hay nôn ói?

Trẻ con thường khó tránh khỏi việc nôn ói, song mức độ và liều lượng ở mỗi bé khác nhau. 7 giải pháp dưới đây sẽ giúp bạn hạn chế được những lần trẻ muốn phun thức ăn ra ngoài:

1. Đưa trẻ đi khám bác sĩ để loại trừ nguyên nhân trẻ bị ói do bệnh (ví dụ: viêm họng, bệnh lý đường tiêu hóa)

2. Tạo không khí thoải mái khi cho trẻ ăn như kể chuyện, chơi đồ chơi, bố làm trò, xem tivi... Tuy nhiên nên giảm dần khi trẻ ăn khá hơn để tránh trở thành điều bắt buộc phải có cho mỗi bữa ăn.

3. Đừng cố ép trẻ ăn quá no. Thay vào đó, bạn nên chia làm nhiều bữa ăn. Quan trọng là lượng thức ăn cả ngày.

4. Sau bữa ăn nên cho trẻ vận động nhẹ nhàng. Tránh chọc trẻ khóc hay cười quá mức cũng có thể làm trẻ bị ói.

5. Nên sắp xếp cữ ăn gần cữ ngủ; giấc ngủ sẽ giúp cho cữ ăn của bé được an toàn.

6. Không nên la mắng khi trẻ bị ói. Một số trẻ giả vờ ói để dọa hay phản đối khi không muốn ăn nữa, lúc đó bạn vờ như không chú ý đến điều đó. Sau một vài lần thực hiện không hiệu quả, trẻ sẽ không làm điều đó nữa.

7. Cuối cùng, tình thương của bạn sẽ giúp trẻ vượt qua tất cả.

Theo Dantri

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2010

Cần làm gì khi bé bị ho, hắt hơi sổ mũi?

Khi thay đổi thời tiết, mọi người rất dễ nhiễm bệnh. Bệnh do thời tiết thay đổi gây ra thường lây lan qua các giọt dịch tiết hô hấp phát tán khi người bệnh hắt hơi, ho trong môi trường đông đúc, bụi bặm.

Bệnh có các biểu hiện đột ngột hắt hơi, chảy nước mũi trong, chảy nước mắt, đau rát cổ. Sau đó vài ngày nước mũi trở nên nhày đặc hơn gây nghẹt mũi kèm theo ho nhưng trẻ vẫn chơi bình thường. Hầu hết các trường hợp do siêu vi đều có thể tự khỏi trong vòng 1 tuần nếu được chăm sóc tốt và không bị bội nhiễm vi khuẩn.

Biến chứng thường gặp là viêm tiểu phế quản ở trẻ nhỏ, viêm phế quản viêm phổi ở trẻ lớn hơn. Lúc này trẻ thường sốt cao, ho có đàm, thở nhanh, khó thở. Do bệnh nặng hơn làm trẻ mệt mỏi và kém chơi. Trẻ bị cảm lạnh có biến chứng phải được đưa đến khám và xử trí tại cơ sở y tế.

 Việc chăm sóc thích hợp tại nhà giúp trẻ dễ chịu, mau lành và ngăn ngừa biến chứng.
- Trẻ bệnh cần được nghỉ ngơi tại nhà để mau hồi phục
- Duy trì chế độ ăn bình thường để tăng sức đề kháng cơ thể cho trẻ. Dùng thức ăn mềm lỏng, uống nhiều nước, tốt nhất là nước ấm.
- Làm thông thoáng mũi, vỗ lưng giúp tống xuất đàm ra ngoài. Dạy trẻ che miệng khi ho, hắt hơi, nhảy mũi. Không khạc nhổ bừa bãi.
- Có thể giảm đau họng bằng những loại thuốc như tắc chưng đường, si rô rau tần. Nếu trẻ còn bú mẹ thì sữa mẹ chính là thuốc giảm đau họng tốt nhất.
- Tránh tiếp xúc với khói bụi, thuốc lá, không khí lạnh sẽ kích thích trẻ ho.
- Cách ly trẻ với người bệnh để tránh lây lan.
Các bậc phụ huynh cần lưu ý theo dõi nhiệt độ, nhịp thở và các biểu hiện khó thở để phát hiện kịp thời khi bệnh trở nặng hơn. Khi trẻ có một trong các biểu hiện nước mũi đục, sốt cao, mệt nhiều, thở nhanh, khó thở hoặc trẻ ho trên 7 ngày, cần đưa trẻ đến bệnh viện để được khám và điều trị kịp thời.

Làm gì khi trẻ bị ho

“Trẻ ho kèm theo một trong những dấu hiệu sau đây bắt buộc phải nhập viện để điều trị: thở nhanh (≥ 60 lần/phút đối với trẻ nhỏ hơn 2 tháng tuổi, ≥ 50 lần/phút đối với trẻ 2 – 12 tháng tuổi, ≥ 40 lần/phút đối với trẻ 12 tháng - 5 tuổi), rút lõm lồng ngực, thở rít, tím tái, bỏ bú hoặc li bì. Trường hợp ho kéo dài từ 4 tuần trở lên cũng phải nhập viện để tìm nguyên nhân’’, các bác sỹ khuyến cáo khi trẻ bị ho và có những triệu chứng như trên.

Các bác sỹ cũng cho biết thêm từ tháng 8 cho đến hết tháng 11 sẽ là những tháng trẻ dễ mắc các bệnh liên quan đến đường hô hấp. Do đó vào những tháng này, các bậc phụ huynh cần lưu ý đến trẻ nhiều hơn. Trong trường hợp trẻ bị ho mà vẫn bú tốt, ngủ ngoan thì vẫn có thể điều trị tại nhà. Điều quan trọng cần nhớ là phải làm thông thoáng mũi cho trẻ ngay trước khi bú và trước khi đi ngủ bằng nước muối sinh lý Natrichlorua 9% và phải theo dõi sát các dấu hiệu nặng kể trên để kịp thời mang trẻ đến bệnh viện điều trị.

Để giải thích về bệnh ho và các dạng ho thường gặp ở trẻ, các bác sỹ cũng cho biết thông thường trẻ sẽ có các dạng cơ bản là ho khan, ho có đàm, ho cấp tính và ho kéo dài.

Ho khan là ho không có đàm, xảy ra khi hít phải các tác nhân gây kích ứng như khói thuốc lá, mùi khó chịu, phấn hoa, nhiễm siêu vi…

Ho có đàm là khi ho tiết nhiều đàm loãng hoặc đặc.

Ho cấp tính là ho trong thời gian ngắn, thường dưới 2 tuần. Bệnh thường gặp gây ho cấp tính ở trẻ là nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính gồm viêm mũi họng, viêm thanh quản, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi…

Ho kéo dài khi ho liên tục từ 4 tuần trở lên. Nguyên nhân ho kéo dài tùy thuộc vào tuổi bệnh nhân. Trẻ nhỏ hơn 12 tháng tuổi cần phải tầm soát những nguyên nhân sau đây: trào ngược dạ dày - thực quản; dò khí quản - thực quản; dị tật bẩm sinh đường hô hấp; nhiễm Cytomegalovirus, Chlamydia, ho gà; tim bẩm sinh; hen phế quản…Đối với trẻ lớn hơn cần phải nghĩ đến một số nguyên nhân như viêm xoang, nhiễm Mycoplasma, hen phế quản, dị vật đường thở, lao, ho gà, tâm lý…

Do có nhiều dạng ho khác nhau nên cũng sẽ có những phương pháp điều trị khác nhau. Ví dụ như ho có đàm, nguyên nhân để gây ra các cơn ho là do sự tiết dịch của chất nhầy, do đó để cắt đứt cơn ho thì cần phải làm tiêu các chất nhầy và tống xuất đàm ra ngoài làm sạch đường thở. Một số biện pháp để làm long đờm là người bệnh nên uống nhiều nước hoặc sử dụng các thuốc long đàm như Acetyl cystein, Carbocistein, Bromhexin, Potassium iodine, Guaiphenesin, Terpin hydrat…Tuyệt đối không được sử dụng các loại thuốc ho có chứa antihistamin để điều trị những trường hợp ho có đàm.

Bên cạnh đó, có thể sử dụng các liệu pháp dân gian như ô mai mơ, quất, quả mùi, tần dày lá, tắc chưng đường phèn…để làm dịu họng giảm ho cho trẻ. Tuy nhiên vì đây là liệu pháp dân gian nên việc điều trị đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian.

Một số thuốc giúp long làm trên thị trường hiện nay có thể kể đến như : như Flemex, Mucosolvan,... trong đó Flemex được sử dụng cho ho có đàm. Trong Flemex có chứa thành phần làm long đàm (Carbocysteine), có tác dụng giảm độ nhầy dính của đàm, loãng đàm dễ khạc. Quá trình này sẽ giúp cho việc tống đàm một cách dễ dàng. Flemex có 2 loại : xi-ro và dạng viên nén được cho cả người lớn, trẻ nhỏ, và người già. Với người lớn bạn có thể dùng dạng viên, còn người già và trẻ nhỏ bạn có thể sử dụng loại xi-rô. Tuy nhiên cần lưu ý là những thuốc này không thể sử dụng cho trẻ dưới 2 tuổi. Đối với những trẻ dưới 2 tuổi cần đến bác sỹ kiểm tra để điều trị hợp lý.

Flemex một trong những loại thuốc ho long đàm có mặt trên thị trường hiện nay dành cho cả người lớn và trẻ nhỏ trên 2 tuổi.

Trong quá trình điều trị bệnh cho trẻ, phải cho trẻ ăn đầy đủ 4 nhóm thức ăn: đường bột, thịt cá, dầu mỡ và rau củ quả, trái cây; đảm bảo cho trẻ có đầy đủ chất dinh dưỡng để tăng sức đề kháng bệnh tật.

Tuy nhiên, trong khi bị bệnh trẻ thường chán ăn, nhất là trong lúc ho trẻ thường nôn ói. Vì vậy cần phải cho trẻ thức ăn lỏng, dễ tiêu hóa. Nên chia thành nhiều bữa ăn nhỏ và ăn nhiều lần. Tránh ép trẻ ăn quá no, khi ho trẻ dễ nôn ói, có nguy cơ hít thức ăn vào phổi làm cho bệnh càng trỡ nên trầm trọng hơn.

Cách xử lý khi trẻ bị sốt và ho

Khi thấy trẻ có các biểu hiện sốt hoặc ho, nhiều bậc phụ huynh thường tỏ ra lơ là, chủ quan và coi đây là chuyện nhỏ. Họ không biết rằng đó cũng có thể là dấu hiệu của những chứng bệnh rất nguy hiểm.

1. Sốt

Trẻ có thể sốt do mọc răng, thiếu nước, nhiễm virus, viêm não, viêm màng não, nhiễm trùng huyết... Sốt cao đột ngột có thể gây co giật ở trẻ nhỏ.

Cách xử lý:

- Giữ cho trẻ thoáng mát, lau mát, cho uống nhiều nước.

- Dùng các thuốc hạ sốt:

  • Paracetamol: 15 mg/kg thể trọng/lần, có thể dùng 3-4 lần/ngày, bằng đường uống hay nhét hậu môn.
  • Ibuprofen: 7-10 mg/kg thể trọng /lần, mỗi ngày 3 liều.

- Cần đưa trẻ đến một cơ sở y tế hay bệnh viện gần nhất nếu:

  • Thân nhiệt ở mức 37,8 độ C trong hơn một ngày.
  • Thân nhiệt tăng trên 38,6 độ C.
  • Sốt kèm theo các triệu chứng sau:

+ Co giật, đi khập khiễng hay lả người, không đi đứng được.

+ Trẻ lơ mơ, lừ đừ hay mê man.

+ Nôn mửa, tiêu chảy nhiều, gây mất nước.

+ Khó thở, tím tái.

+ Có các dấu hiệu viêm màng não (nôn mửa, thóp phồng, nhức đầu...).

+ Phát ban ngoài da.

+ Bỏ bú.

+ Vàng da.

+ Đi tiêu ra máu.

2. Ho

Ho làm cho trẻ mất ngủ, ói mửa, bỏ ăn, sụt cân. Trẻ bị ho do nhiễm trùng (virus hoặc vi trùng). Các bệnh gây ho:

- Viêm đường hô hấp trên (viêm mũi, họng, thanh quản, amiđan...).

- Viêm đường hô hấp dưới (phế quản, tiểu phế quản, phổi, lao phổi...).

- Hen, có dị vật đường thở...

Ho do các nhiễm trùng thông thường, dị ứng, hen nhẹ có thể điều trị dễ dàng tại các cơ sở y tế, không cần nhập viện. Đề phòng các biến chứng nặng như suy hô hấp hoặc khả năng lây lan cao, cần đưa trẻ vào bệnh viện trong các trường hợp sau:

- Ho do các nhiễm trùng đặc biệt như ho gà, lao.

- Có dị vật đường hô hấp.

- Viêm tiểu phế quản kèm tím tái, khó thở.

- Hen vừa và nặng.

Không nên tự ý điều trị bằng các loại thuốc ho hay kháng sinh khi chưa có ý kiến của bác sĩ. Chẳng hạn, việc cho trẻ bị hen uống các thuốc ho thông thường sẽ không giúp giảm ho mà còn làm cho bệnh nặng hơn. Trường hợp ho do dị vật đường hô hấp, thuốc cũng không có tác dụng, cách điều trị duy nhất là lấy dị vật ra.

BS Nguyễn Thanh Hải, NLĐ

Làm gì khi bé bị sốt cao ?

Sốt là một biểu hiện của nhiễm khuẩn.
Hãy đưa bé đến cơ sở y tế ngay nếu ngoài sốt, bé còn có một trong các dấu hiệu như bỏ ăn uống, ngủ li bì khó đánh thức, co giật, thở rít khi nằm yên, rút lõm lồng ngực và thở nhanh, mất nước nặng.
Sốt là dấu hiệu thường gặp nhất khi trẻ bị bệnh nhiễm khuẩn. Các bệnh nhiễm khuẩn phổ biến ở trẻ nhỏ và gây sốt cao là viêm nhiễm đường hô hấp, viêm tai giữa, tiêu chảy... Khi trẻ bị nhiễm khuẩn, ngoài việc điều trị bằng thuốc, vấn đề chăm sóc và nuôi dưỡng đúng cách cũng rất quan trọng, giúp trẻ chóng khỏi bệnh và hồi phục.
Nếu trẻ sốt nhẹ và vừa (thân nhiệt từ 37,5 độ C đến dưới 39 độ C), có thể chưa cần dùng đến thuốc hạ nhiệt, cho trẻ nằm nơi thoáng mát và nới bớt quần áo, đắp khăn ướt lên trán.

Một số trường hợp trẻ sốt cao có thể bị co giật. Khi đó, nên dùng khăn nhúng vào nước mát hoặc nước hơi ấm lau nhẹ khắp người trẻ, đặc biệt là ở nách, bẹn và trán. Cho trẻ uống thuốc hạ sốt, nếu không uống được thì dùng viên đặt hậu môn với hàm lượng thuốc tùy thuộc cân nặng, đồng thời cho uống nhiều nước. Tuyệt đối không được ủ kín trẻ.
Khi trẻ bị sốt, cứ mỗi lần thân nhiệt tăng 1 độ C thì chuyển hóa cơ bản tăng hơn 10%, do đó nhu cầu về năng lượng cũng tăng. Vì vậy, chế độ ăn trong thời gian trẻ sốt vẫn phải đảm bảo đầy đủ thành phần cung cấp năng lượng (chủ yếu là dầu, mỡ và đạm). Khi sốt, cơ thể cũng mất rất nhiều nước và chất điện giải qua da, đường thở, mất vitamin qua phân, nước tiểu... nên nhu cầu về nước, vitamin và chất khoáng tăng lên rất nhiều. Mặt khác, khi sốt cao, các men tiêu hóa bị ức chế nên trẻ thường chán ăn, phải cho trẻ ăn những món vừa dễ tiêu hóa vừa đảm bảo cung cấp đủ những nhu cầu đặc biệt của giai đoạn này.

Với trẻ nhỏ còn bú mẹ, cần cho bú nhiều lần hơn và thời gian mỗi lần bú lâu hơn bình thường. Nếu trẻ không tự bú được, người mẹ cần vắt sữa vào cốc rồi dùng thìa cho trẻ uống.

Với trẻ lớn hơn (đã ăn bổ sung), nên tăng thêm số bữa trong ngày với các loại thức ăn mềm, đa dạng, dễ tiêu hóa và chia thành nhiều bữa nhỏ. Thay đổi thức ăn, làm những món hợp khẩu vị để giúp trẻ ăn nhiều, kích thích sự thèm ăn. Nếu trẻ tiêu chảy, có thể dùng nước giá đỗ xanh để quấy bột, nấu cháo loãng để vừa giúp trẻ dễ ăn vừa đảm bảo cung cấp đầy đủ các chất đạm, bột.
Đặc biệt chú ý đề phòng trẻ bị suy dinh dưỡng khi nhiễm khuẩn nặng và kéo dài. Cần cho trẻ uống nhiều nước, nhất là nước hoa quả tươi, hoặc ăn thêm hoa quả để bù lại lượng nước bị mất do sốt. Cung cấp thêm vitamin A, vitamin C vì các bệnh nhiễm trùng có thể gây mất vitamin A qua phân, nước tiểu, dẫn đến nguy cơ thiếu vitamin A, đặc biệt là đối với trẻ suy dinh dưỡng. Những trẻ bị viêm phổi nặng cần bổ sung vitamin A liều cao (tùy thuộc vào tuổi theo hướng dẫn của Chương trình Phòng chống thiếu máu, vitamin A).

Nên cho trẻ ăn cả mỡ lẫn dầu, đặc biệt là mỡ gà (vì mỡ gà có tới 18% acid béo chưa no rất tốt cho sự hấp thu của trẻ). Các loại thực phẩm giàu chất đạm là sữa mẹ, sữa bò, sữa đậu nành, trứng, thịt cá...
Các sai lầm thường gặp trong nuôi dưỡng trẻ sốt nhiễm khuẩn
- Không tăng cường số bữa ăn mặc dù mỗi bữa trẻ chỉ ăn rất ít hoặc bỏ ăn.
- Nấu loãng hơn bình thường khiến trẻ lúc này đã ăn ít hơn lại càng bị thiệt thòi về chất.
- Không cho dầu mỡ vào bột, cháo của trẻ khi trẻ bị sốt tiêu chảy.
- Không cho trẻ ăn thịt gà khi trẻ bị sốt có ho vì sợ trẻ ho nặng thêm. Sự lo sợ này là hoàn toàn không có cơ sở khoa học vì thịt gà không gây ho cho trẻ.
- Không cho ăn cá, tôm, cua khi trẻ có nhiễm khuẩn ho hay tiêu chảy. Thực ra, chỉ trong trường hợp cá, tôm, cua là nguyên nhân gây tiêu chảy (hiếm gặp) thì mới cần ăn kiêng.
- Không dùng thuốc hạ sốt cho trẻ kịp thời (khi trẻ bắt đầu sốt từ 39 độ C) khiến trẻ bị co giật, dẫn đến những tổn thương ở não, gây chứng động kinh sau này.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2010

Cách cai sữa tốt nhất bảo vệ sức khoẻ mẹ và bé

Muốn cai sữa cho con, các bà mẹ tuyệt đối không nên ngừng cho bé bú đột ngột vì điều này vừa không tốt cho cả mẹ và con.

Khi con 18 tháng, chị Quỳnh quyết định cai sữa nên gửi bé về nhà ngoại một tuần. Làm theo lời mẹ dặn là nhất định không được vắt sữa đi vì càng vắt càng ra sữa, sau hai ngày, chị Quỳnh căng tức hai bầu vú rồi lên cơn sốt.

Chị Quỳnh (Thanh Xuân, Hà Nội) đau tức ngực đến nỗi mỗi lần nằm xuống phải nhẹ nhàng như lúc mới sinh mổ. Chị phải xin nghỉ làm, nằm nhà và mua thuốc giảm đau về uống nhưng vẫn không đỡ. Cuối cùng, chị phải đến bác sĩ và biết mình bị áp xe vú.
Cũng như chị Quỳnh, nhiều chị em cai sữa rất vất vả, phải chịu đau đớn, thậm chí bị tắc tuyến sữa, có thể gây viêm, sưng đầu vú, hoặc bị áp xe vú.

Theo bác sĩ sản phụ khoa Lê Thị Kim Dung, Trung tâm Y học Lao động (Thái Hà, Hà Nội), lý do dẫn đến tình trạng trên là do chị em cai sữa không đúng cách.

Bác sĩ cho biết, bình thường, quá trình cai sữa của phụ nữ diễn ra dễ dàng. Thông thường, dù không phải "cai" thì sữa sẽ tiết ít dần theo phản xạ ít bú ít đi và ăn dặm nhiều hơn của trẻ. Có những phụ nữ sau một thời gian con ít bú là mẹ tự nhiên mất sữa.
Theo bà Dung, muốn cai sữa cho con, các bà mẹ tuyệt đối không nên ngừng cho bé bú đột ngột vì điều này vừa không tốt cho cả mẹ và con. Chị em nên giảm dần số lần bú trong ngày và giãn dần thời gian cho bú. Ví dụ nếu đang cho con bú 3 lần/ngày thì giảm xuống 2 lần rồi một lần và cuối cùng bỏ hẳn trong thời gian 2-3 tuần, thậm chí hơn. Với cách làm này bạn sẽ không bị cương sữa và bé cũng không khóc lóc vì thèm.

Ngoài ra, nếu tách hẳn con trong thời gian cai sữa, bạn có thể vắt bớt sữa nhưng vẫn tuân thủ nguyên tắc giãn dần giữa các lần và giảm dần lượng sữa vắt ra, tuyệt đối không vắt hết sữa và vắt thường xuyên.

Trong quá trình cai, nếu thấy ngực cương, đau, chị em có thể lấy khăn mặt nhúng vào nước ấm và ấp vào ngực để ngực mềm dần rồi vắt hoặc hút mạnh cho thông dòng sữa.

Khi cai sữa, các bà mẹ có thể dùng thuốc cai sữa hoặc dùng băng ép sữa. Các thuốc cai sữa thực chất là nội tiết tố của buồng trứng hoặc nội tiết tố của tuyến yên có tác dụng giảm quá trình tiết sữa. Tuy nhiên, bạn không được tự ý mua, dùng thuốc này mà phải hỏi ý kiến và uống theo hướng dẫn của bác sĩ.

Bác sĩ cho biết, không ít phụ nữ cai sữa không đúng, khi đó, chỉ có thể đến bác sĩ để được xử lý.
Theo Vnexpress