Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn Cho bé ăn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cho bé ăn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2014

Chế Độ Ăn Khoa Học Nhất Cho Trẻ Qua Các Giai Đoạn

Dựa trên các nghiên cứu và khảo sát thực tế, giáo sư Michael Lee và các đồng nghiệp ở Đại học Ilinois (Mĩ) đã đưa ra tổng kết về sự thay đổi chế độ ăn của trẻ từ sơ sinh đến độ tuổi thiếu niên. Mời các bậc phụ huynh cùng tham khảo!che-do-dinh-duong-cho-tre-nho1. Chế độ ăn từ 0 – 1 tuổi
Giáo sư Michael Lee cho biết dạ dày của trẻ sơ sinh rất nhỏ, các bà mẹ không nhất thiết phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về khối lượng thức ăn và thời gian cho ăn đối với bé. Các mẹ nên học cách phân biệt được ý muốn của con thông qua tiếng khóc. Khi bé khóc, đầu tiên bạn kiểm tra xem bé có cần thay tã không, nếu không bạn chấm nhẹ ngón tay hai bên mép bé, thấy bé quay đầu về hai bên theo ngón tay thì đó là dấu hiệu bé đang đói.
Chế độ ăn của bé 0 – 1 tuổi được thay đổi theo từng giai đoạn nhỏ, cụ thể như sau:
a) 0 – 3 tháng tuổi
Trong giai đoạn này, các mẹ không cần tuân theo nguyên tắc nào về thời gian mà cứ thấy con đói là cho bú, không nhất thiết hạn chế số lần cho con bú.tre-3-thang-bu-meNhưng cũng nên chú ý là có ít nhất một bữa trong ngày phải đảm bảo bé được bú no theo nhu cầu.
b) 4 – 6 tháng tuổi
Thông thường, trong giai đoạn này số bữa ăn trong ngày của trẻ giảm xuống 6 – 8 bữa một ngày. Giáo sư Lee nhấn mạnh, từ tháng thứ 5 trở đi, tốt nhất không nên cho trẻ bú từ lúc nửa đêm trở đi để tập cho bé thói quen không ăn đêm.tre-bu-me-theo-nhu-cauSữa cho trẻ có thể hoàn toàn là sữa mẹ hoặc bổ sung thêm sữa công thức, nếu bắt đầu cho bé ăn dặm thì thức ăn chỉ nên ở mức “gọi là” và không lấn át các bữa sữa chính.
c) 7 – 10 tháng tuổi
Bữa ăn của trẻ được giảm xuống 6 bữa/ngày, trong đó bao gồm 4 – 5 bữa sữa và 1 – 2 bữa ăn dặm.em-be-8-thang-tuoi-an-damTrong khoảng thời gian trước khi bé ngủ hoặc sau khi ăn no tính cho đến khi thức dậy vào buổi sáng hôm sau không nên cho bé ăn thêm thức ăn khác.
d) 10 – 12 tháng tuổi
Gần 1 tuổi, bữa ăn của bé giảm xuống 5 bữa một ngày, trong đó bao gồm 3 bữa sữa, 2 bữa ăn. Bữa sáng của bé nên có sữa, trứng gà, bánh mì hoặc bánh bao.che-do-dinh-duong-cho-tre-10-thang-tuoiTrong giai đoạn này, tốt nhất trong bữa ăn chính của gia đình vào buổi trưa hoặc buổi tối nên cho bé uống thêm 600 ml sữa trở lên.
2. Chế độ ăn từ 1 – 3 tuổi
Trong độ tuổi này, những chiếc răng sữa đầu tiên đã xuất hiện, bé có thể chuyển sang thức ăn dạng đặc để tập nhai, đồng thời làm đa dạng hóa thức ăn hấp thu vào cơ thể.che-do-an-cho-tre-nhoCác mẹ cũng bắt đầu đưa bé vào “khuôn khổ”: ăn đúng giờ, đúng bữa, không vừa ăn vừa chơi hoặc xem ti vi…che-do-dinh-duong-cho-tre-15-thang-tuoiMột điều cần chú ý là các mẹ không nên ép con ăn bằng mọi cách hoặc cho con đi ăn rong vì như vậy ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe dạ dày của bé.
3. Chế độ ăn từ 3 – 6 tuổi
Thức ăn cho trẻ nên phong phú về thành phần, tuy nhiên ngũ cốc luôn đóng vai trò chính. Thường xuyên cho bé ăn cá, thịt gia cầm, trứng, thịt lợn nạc, ăn nhiều rau tươi và trái cây. Hạn chế uống nước ngọt, thay vào đó nên uống một lượng sữa ổn định hàng ngày. Cũng nên uống đậu nành và các sản phẩm chế biến từ đậu tương.che-do-an-cho-tre-4-tuoiTrong độ tuổi trước khi đi học tiểu học này, bé cần đảm bảo được ăn đủ 3 bữa mỗi ngày, cộng thêm 1 – 2 bữa ăn nhẹ. Không để trẻ vừa ăn vừa chơi hoặc xem tivi và cho phép trẻ lựa chọn món ăn trong giới hạn cho phép.
4. Chế độ ăn trong độ tuổi nhi đồng, thiếu niên
Độ tuổi này hình thành thói quen ăn uống phù hợp với nhu cầu sinh lý, thông thường trẻ vẫn ăn đều đặn 3 bữa mỗi ngày, mỗi bữa cách nhau 4 – 6 giờ đồng hồ. Phân bổ lượng thức ăn trong 3 bữa theo tỷ lệ hợp lý: ăn sáng 25 – 30% tổng năng lượng cần cung cấp cho một ngày, ăn trưa chiếm 30 – 40%, ăn tối chiếm 30 – 40%. Bữa tối không nên ăn đồ ngọt thay cho thức ăn chính.cham-con-khoe-vi-sao-cho-be-an-sang-moi-ngayCác mẹ cần lưu ý rằng nếu bữa sáng không đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng thì không chỉ ảnh hưởng đến năng lực tiếp thu kiến thúc và hoạt động thể chất của bé ở trường mà còn không có lợi cho hệ thống tiêu hóa và sức khỏe của bé. Vì vậy, một bữa ăn hợp lý về thành phần dinh dưỡng nên bao gồm sữa tươi hoặc sữa đậu nành, trứng, thịt nạc hoặc các loại thực phẩm giàu protein. Rau và trái cây cũng là thành phần được khuyến khích trong bữa sáng.
Khỏe Mới Vui, Vui Mới Khỏe!

Thứ Ba, 26 tháng 1, 2010

Các nguyên tắc cơ bản để trẻ ăn lành mạnh

Những nguyên tắc cơ bản để cho trẻ ăn đúng cách
Quay lại các điều cơ bản: làm thế nào để giúp trẻ ăn đúng cách.
Để ngăn chặn tình trạng thừa cân ở trẻ em, bạn cần áp dụng cho trẻ chế độ ăn cân bằng và đúng cách, áp dụng trên mọi thực phẩm trong bữa ăn của trẻ.

Áp dụng chế độ dinh dưỡng cho trẻ, có thể hiểu là:
- Ba bữa ăn một ngày và một bữa ăn nhẹ buổi chiều, ăn trong yên lặng, ăn trên bàn cùng với gia đình (càng nhiều càng tốt)
- Năm phần trái cây và rau quả một ngày
- Một phần cua cho mỗi bữa
- Thịt hoặc cá một lần một ngày (không thêm)
- Sữa hoặc các chế phẩm từ sữa ba lần trong ngày
- Một bữa sáng đầy đủ có bánh mì hoặc ngũ cốc, chế phẩm từ sữa và một miếng trái cây tươi
- Một bữa nhẹ một ngày, vào buổi chiều (để mắt xem khẩu phần và thời gian ăn nhẹ)
- Không ăn bất cứ bữa nhẹ nào khác giữa các bữa ăn.
Điều quan trọng là phải dạy cho trẻ biết cách lắng nghe cơ thể và ăn theo nhu cầu của cơ thể khi đói. Ăn để cơ thể khỏe và đáp ứng nhu cầu tốt hơn là ăn để đạt cân nặng, điều này rất mập mờ dễ làm cho trẻ cảm thấy ăn uống là điều tội lỗi.
Thói quen ăn uống và những món ăn bạn hay nấu cho con sẽ ảnh hưởng đến cách ăn uống của con trong suốt cuộc đời của chúng. Tốt nhất là chú ý đến chế độ dinh dưỡng trong những năm đầu.

Hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ

Nuôi con bằng sữa mẹ và đi làm
Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của trẻ là cực kỳ tốt, nhưng bạn sẽ xoay sở thế nào khi bạn phải đi làm trở lại trước khoảng thời gian đó? Điều đầu tiên, chỉ có một cách là cai sữa cho con. Cũng có những cách khác cho các bà mẹ muốn tiếp tục việc cho con bú mẹ. Yếu tố chính là việc duy trì nguồn sữa mẹ.
Để làm được điều này, cần có hai điều kiện: cho con bú thường xuyên và nghỉ ngơi càng nhiều càng tốt.

Có hai giải pháp khả thi sau:
> Chỉ nuôi con bằng sữa mẹ, điều này phụ thuộc vào sự quyết tâm và điều kiện công việc của người mẹ. Trước khi quay trở lại làm việc, bạn cần xây dựng một “ngân hàng sữa”. Để làm được điều này, bạn vắt sữa ra và cho vào tủ lạnh, ghi rõ ngày vắt sữa lên chai đựng sữa hoặc túi đựng sữa. Bạn có thể gửi chai đựng đầy sữa mẹ cho người nào chăm sóc con bạn.
Ở nơi làm việc, hãy tìm một nơi yên tĩnh để bạn có thể vắt sữa rồi cho vào tủ lạnh. Điều này giúp bạn duy trì được nguồn sữa mẹ. Khi có thời gian ở bên cạnh bé, hãy cho bé bú thường xuyên hơn. Vào ngày cuối tuần, hãy thư giãn, nhờ đến gia đình hay bạn bè giúp bạn làm những việc khác trong khi bạn cho con bú, nhất là khi bạn còn có những đứa con lớn hơn.
>Việc cho con bú chỉ nên được thực hiện khi mẹ ở nhà với bé: phương pháp này cho phép bạn duy trì nguồn sữa mẹ và làm cho cuộc sống bạn dễ dàng hơn. Việc cho con bú chỉ được thực hiện khi bạn ở cùng với bé, bé ngậm ti mẹ và không làm gì khác nữa. Một khi bé đã đi nhà trẻ hay ở cùng với bảo mẫu, bé sẽ được cho uống sữa bột. Từ từ, nguồn sữa mẹ sẽ đáp ứng đủ cho nhu cầu của bé chỉ được kích thích khi bạn ở bên cạnh bé.
Những ngày đầu tiên đòi hỏi bạn phải đáp ứng đầy đủ cho bé và tất nhiên bạn sẽ bị làm phiền vì phải luôn cố gắng sẵn sàng nguồn sữa mẹ. Để đáp ứng ngay tức thì, bạn có thể vắt sữa. Từ từ, “sản phẩm” của bạn sẽ về với bé.

Tôi có thể cho con bú trong bao lâu?
Không có khoảng thời gian cố định cho việc này. Nó tùy vào người mẹ và đứa bé để quyết định bao lâu theo nhu cầu, mong muốn và giới hạn.
Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo nên cho con bú mẹ hoàn toàn ít nhất 6 tháng đầu đời, tổ chức này cũng nhấn mạnh những lợi ích của việc kéo dài việc nuôi con bằng sữa mẹ cho đến một năm tuổi hoặc hơn (bên cạnh việc cho con làm quen với các thức ăn khác nhau). Vì thế không có lý do nào để không kéo dài việc nuôi con bằng sữa mẹ.
Ở phương Tây, người ta có khuynh hướng nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian ngắn hơn (ít hơn 3 tháng) vì những lý do văn hóa (cũng như tôn giáo, phân tâm học, xã hội học và lý do kinh tế như sự phát triển nguồn sữa thay thế sau Chiến tranh thế giới thứ hai). Nhưng với góc độ khoa học là không có gì chống lại được việc nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian dài: đó chính là lợi ích cho đứa trẻ. Bên cạnh đó, ta cũng có thể thấy một đứa trẻ 2 tuổi uống sữa 1 lần vào buổi sáng và 1 lần trước khi đi ngủ. Không có lý do gì để bạn không nên làm như thế cả.
Thêm một điều nữa: bé sẽ không cắn ti bạn nữa ngay cả khi bé có răng, thay vào đó, bé sẽ cắn núm vú bình sữa!

Cai sữa cho con
Nếu bạn quyết định cai sữa cho con, bạn sẽ phải làm rất nhiều thứ đấy.
> Nếu có thể, hãy bắt đầu cai sữa cho con 3 tuần trước bạn quay lại làm việc. Bắt đầu, đừng từ chối hẳn khi con bạn đòi bú, nhưng cũng không khuyến khích điều này với bé.
> Từng chút một, thay thế việc cho con bú mẹ bằng cho con bú bình, và nếu có thể, nói với gia đình hay bạn bè giúp bạn cho bé bú bình (bây giờ tới nhiệm vụ của các ông bố đây!)
> Tăng từ từ lượng sữa bú bình lên và giảm bớt lượng sữa mẹ xuống. Nguồn sữa mẹ của bạn sẽ bị chặn lại khi nhu cầu của bé giảm đi.
Nếu bé nhất định không chịu bú bình, đừng hoang mang: hãy thay bình sữa bằng ly và muỗng.
> Nếu bạn có cảm giác buồn bã, điều này là hoàn toàn bình thường. Sự chia cắt đầu tiên không dễ dàng bao giờ! Hãy tự hỏi: bạn có thật sự cần phải cai sữa cho con chưa, hay việc này làm là vì chồng bạn hay vì công việc của bạn? Và câu trả lời là chỉ bởi vì đó là việc cần phải làm?
> Cần phải nói về cảm giác của bạn. Tại sao bạn không tâm sự với gia đình, bạn bè, những người đi trước bạn?

Khẩu phần cho trẻ: bạn nên cho trẻ ăn bao nhiêu là vừa?

Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ cần nhiều loại thức ăn theo độ tuổi, giới tính và số lần tập thể dục mà trẻ thực hiện. Quan niệm trẻ trai cần ăn nhiều hơn trẻ gái là không sai (ít ra là cho đến lúc dậy thì).

Đối với trẻ dưới 2 tuổi, bác sĩ nhi khoa khuyên nên đưa ra nhiều loại thức ăn trong chế độ ăn của bé. Hãy đưa ra số lượng thức ăn, con bạn sẽ cho bạn biết bao nhiêu thức ăn thì bé no: hầu hết thời gian trẻ dùng để vận động, di chuyển hoặc chơi thể thao, trẻ sẽ ăn đủ mà!
Từ 2-3 tuổi trở đi, trẻ cần nhiều loại thức ăn khác nhau theo ý muốn cá nhân. Hãy tin rằng trẻ sẽ làm cho bạn biết số lượng thức ăn mà chúng cần! Đừng bắt trẻ phải ăn hết những thứ trong dĩa, và và cho chúng dĩa thứ hai nếu chúng đòi (nhưng phải chắc rằng con bạn vẫn ăn uống cân bằng nhé: ví dụ, cho trẻ 1 miếng trái cây tốt hơn là 1 miếng bánh). Giữ đúng giờ của các bữa ăn và cùng ngồi ăn trên bàn, giữ yên lặng, để con bạn có thể lắng nghe cơ thể chúng phát đi tín hiệu “no” hay “đói”.

Bạn nên đừng bao giờ bắt trẻ ăn kiêng hay từ chối cho trẻ ăn với cái cớ là chúng béo quá: khi có cơ hội, trẻ sẽ ăn nhiều hơn để bù lại đấy.

Triệu chứng nôn trớ/ọc của trẻ

Nôn trớ/ọc là triệu chứng sau khi cho ăn, trẻ bị nôn trớ/ọc các thức ăn đã vào dạ dày ra ngoài miệng. Bạn hãy đọc những thông tin về các biến chứng của nôn trớ/ọc và các cách chữa trị triệu chứng này cho trẻ.

Nôn trớ/ọc

Nôn trớ/ọc ở trẻ nhỏ, hay cũng được biết tới như chứng trào ngược thực quản, là khi thức ăn trong dạ dày bị trào ngược ra miệng sau khi ta cho trẻ ăn. Triệu chứng này đôi khi có thể trở nên quá nhiều, thường xuyên và khiến bé của bạn mệt mỏi.
Nôn trớ/ọc là do hoạt động kém của một bộ phận nối giữa dạ dày và thực quản (đây là bộ phận có tính đàn hồi ở đầu dạ dày có chức năng ngăn các chất lỏng bị trào ngược ra lại). Tất cả các em bé đều sinh ra với bộ phận nối dạ dày và thực quản còn non nớt vì chưa phát triển toàn diện. Bộ phận này không đóng hoàn toàn, vì thế khí a xít và thức ăn có thể trào ngược lên lại phía trên miệng.
Mặc dù thông thường, nhất là ở bé trai, phần lớn thời gian, nôn trớ/ọc chỉ ít và tự hết khi bé bắt đầu ăn thức ăn đặc và khi bé bắt đầu biết đi, khoảng khi bé được 1 tuổi.
Khó để phân biệt giữa nôn trớ/ọc với nôn ói, nhưng cần phải phân biệt giữa hai triệu chứng này. Nôn ói là khi một lượng lớn thức ăn và chất nhầy bị tống ra khỏi miệng, và khi nôn ói thường xuyên, bé sẽ lên cân chậm.
Nếu như bé của bạn vẫn lên cân bình thường, thì nôn trớ/ọc không có hại và bạn cũng như bé của bạn chỉ đơn giản là phải làm quen với việc này.

Các biến chứng
Nôn trớ/ọc có thể gây ra các vấn đề hô hấp hoặc tiêu hóa như bệnh viêm thực quản (lớp tế bào bên trong của thực quản bị viêm do sự trào ngược của a xít). Nôn trớ/ọc cũng có thể gây ra các chứng viêm đường thở hoặc viêm tai, mũi, họng tái đi tái lại, nhất là khi bé bị nôn trớ/ọc khi đang ngủ, khi bé đang nằm.
Nếu bé bị tái xanh khi đang nôn trớ/ọc, hoặc bất thình lình mềm rũ ra sau khi ăn, nôn trớ/ọc ra có vết máu hay nôn trớ/ọc thường xuyên sau khi ăn hoặc khi đang ngủ, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ.

Cách thức chuẩn bị, pha chế và bảo quản sữa công thức


Dù bạn chọn loại sữa công thức nào thì việc pha chế và bảo quản cũng hết sức cần thiết. Hãy thực hiện những bước sau:

1. Rửa sạch tay và dụng cụ.
Trước khi pha sữa cho bé, hãy rửa tay bằng xà phòng và nước. Hãy chắc chắn là dụng cụ pha sữa cho bé cũng phải thật sạch sẽ, bao gồm cả bình sữa và núm vú. Bạn có thể khử trùng bình và núm vú trong lần dùng đầu tiên. Những lần sau, rửa bằng nuớc rửa bình sữa và nước sạch là được. Nếu bạn chuẩn bị mở một hộp sữa mới, hãy dùng khăn sạch lau phần trên hộp trước khi mở.

2. Lấy sữa.
Đừng vội vàng trong việc lấy sữa. Nếu bạn dùng sữa bột, hãy lấy đầy muỗng lường sau đó dùng một vật phẳng gạt bỏ phần sữa dư. Nếu dùng sữa cô đặc, bạn có thể đổ trực tiếp sữa vào bình có đánh dầu sẵn định mức hoặc dùng muỗng lường để múc.

3. Pha chế sữa.
Sữa bột và sữa cô đặc cần phải hòa với nước, vì vậy, nếu bạn nghi ngờ về độ an toàn của nước uống trong nhà bạn, hãy mang đi kiểm tra. Pha chính xác lượng nước mà nhà sản xuất ghi trên bao bì. Nếu sữa quá loãng hoặc quá đặc, bạn sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của trẻ và có thể làm ảnh hưởng tới sự cân bằng điện phân ở trẻ.

4. Làm ấm sữa, nếu cần thiết.
Bạn có thể pha sữa công thức cho trẻ bằng nước bình thường hoặc hơi lạnh. Nếu em bé nhà bạn thích sữa ấm hơn, bạn có thể làm nóng bằng cách hấp cách thủy bình sữa trong một cái bát hoặc cái ly chứa nước nóng trong vài phút.

Lắc đều bình sữa sau khi hâm nóng, sau đó cầm ngược bình sữa. nhỏ một vài giọt vào cổ tay bạn để kiểm tra nhiệt độ của sữa, nhiệt độ phài ấm vừa chứ không được nóng. Đừng hâm nóng bình sữa trong lò vi sóng, sữa có thể nóng không đều, tạo ra những điểm nóng có thể làm bỏng miệng bé.

5. Để vào tủ lạnh sữa pha sẵn.
Nếu bạn chuẩn bị một vài bình sữa cho bé một lúc, hãy giữ chúng trong tủ lạnh cho tới lúc bạn dùng. Bỏ đi những bình sữa ở trong tủ lạnh quá 24 giờ hoặc bất kỳ phần sữa thừa nào sau một lần bé uống. Kiểm tra nhiệt độ tủ lạnh sao cho luôn ở dưới 4oC.

6. Bảo quản sữa.

Để sữa ở nơi khô, thoáng. Luôn đậy nắp thật chặt. Kiểm tra hạn sử dụng và nhớ là sữa công thức dạng bột chỉ sử dụng trong vòng một tháng sau khi mở nắp.